Trang chủ Lưu Trọng Lư

Lưu Trọng Lư

Lưu Trọng Lư (1911 – 1991), là một nhà thơ, nhà văn, nhà soạn kịch Việt Nam, người làng Cao Lao Hạ, xã Hạ Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.

Ông sinh trưởng trong một gia đình quan lại xuất thân nho học. Thuở nhỏ, ông học trường tỉnh, rồi học ở Huế (đến năm thứ 3 tại Quốc học Huế) và Hà Nội. Sau đó, ông bỏ học đi dạy tư, làm văn và làm báo để kiếm sống.

Năm 1932, ông là một trong những nhà thơ khởi xướng và tích cực cổ vũ cho phong trào Thơ mới. Ông là một trong những người tiên phong của Phong trào Thơ mới, những bài thơ của ông mà “nhiều bài thực không phải là thơ, nghĩa là những công trình nghệ thuật, mà chính là tiếng lòng thổn thức cùng hòa theo tiếng thổn thức của lòng ta” (Hoài Thanh-Hoài Chân) đã góp phần khẳng định vị thế của Thơ mới.

Năm 1933-1934, ông chủ trương mở Ngân Sơn tùng thư ở Huế.

Năm 1941, ông và thơ ông được Hoài Thanh và Hoài Chân giới thiệu trong quyển Thi nhân Việt Nam.

Sau Cách mạng Tháng Tám (1945), ông tham gia Văn hóa cứu quốc ở Huế. Những năm kháng chiến chống Pháp, ông tham gia hoạt động tuyên truyền, văn nghệ ở Bình Trị Thiên và Liên khu IV.

Sau 1954, ông công tác ở Bộ Văn hóa và làm Tổng Thư ký Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam. Năm 1957, ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.

Năm 1991, Lưu Trọng Lư mất tại Hà Nội. Ông đã được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 2000.

Phong cách nghệ thuật

Trong thơ Lưu Trọng Lư còn nhiều duyên nợ với các nhà Đường thi như Lý Bạch, Đào Tiềm, Tô Đông Pha,… và có một phần giống với Tản Đà. Trong khi với Xuân Diệu luôn muốn ôm lấy cả cuộc đời, hăm hở đi tìm những cảm giác mới lạ và có được những cuộc hưởng thụ thật đủ đầy hay như Hàn Mạc Tử thì Lưu Trọng Lư dường như lại chỉ mong được sống phóng túng giữa tình thực và tình mộng. Chính vì lẽ đó mà thơ Lưu Trọng Lư như một thế giới xa vắng, mộng ảo, rất gần với cổ thi. Ông như người đi trên một chiếc cầu bập bênh, chỉ cần trọng lực của thế giới tâm tưởng lắc nhẹ sang đời thực là ông có thể yên tâm với cuộc sống hiện hữu.

Các tác phẩm:

Thơ
– Tiếng thu (1939)
– Toả sáng đôi bờ (1959)
– Người con gái sông Gianh (1966)
– Từ đất này (1971)

Sân khấu
– Nữ diễn viên miền Nam (cải lương)
– Cây thanh trà (cải lương)
– Xuân Vỹ Dạ (kịch nói)
– Anh Trỗi (kịch nói)
– Hồng Gấm, tuổi hai mươi (kịch thơ, 1973)

Văn xuôi
– Người sơn nhân (truyện, 1933)
– Chiếc cáng xanh (truyện, 1941)
– Khói lam chiều (truyện, 1941)
– Mùa thu lớn (tuỳ bút, hồi ký, 1978)
– Nửa dêm sực tỉnh (hồi ký, 1989)