Vịnh Lương Vũ Đế – 詠梁武帝

0
11

詠梁武帝

小菊東籬酒未闌,
偶將梁史一憑看。
四更皴裂真為苦,
萬乘麄疎此亦難。
興廢有期悲世運,
笑談無定恥儒冠。
若將餓死為真事,
堯舜湯文骨亦寒。

Vịnh Lương Vũ Đế

Tiểu cúc đông ly tửu vị lan,
Ngẫu tương Lương sử nhất bằng khan.
Tứ canh thuân liệt chân vi khổ,
Vạn thặng thô sơ thử diệc nan.
Hưng phế hữu kỳ bi thế vận,
Tiếu đàm vô định sỉ nho quan.
Nhược tương ngạ tử vi chân sự,
Nghiêu, Thuấn, Thang, Văn cốt diệc hàn.

Dịch nghĩa

Bên giậu cúc phía đông, rượu chưa say,
Ngẫu nhiên đem Lương sử ra xem.
Lương Vũ Đế trong bốn canh rét tê tái cực khổ,
Có vạn cỗ xe thế mà chỉ ăn cơm hẩm với rau, thật là hiếm có.
Vận đời đáng buồn là có lúc hưng lúc phế,
Thế mà nhà nho chê cười không đúng, thật là đáng thẹn cho họ.
Nếu việc Lương Vũ Đế chết đói là có thật,
Thì bốn ông vua Nghiêu, Thuấn, Thang, Văn: xương cũng phải tàn.

Rút từ Quế Sơn thi tập (A.469).

Triệu Diễn là đô đốc Tương Dương, được vua Tề phong tước Lương Vương, sau được nhường ngôi gọi là Lương Vũ Đế. Lên ngôi vua, ông làm cho nước Lương giàu mạnh. Ông làm việc cần cù, sinh hoạt giản dị, trời rét vẫn làm việc đến canh tư, chân tay tê cóng, vẫn ăn cơm hẩm, mặc áo vải. Khi bị Hầu Cảnh làm phản, hãm thành, ông cầm cự được một thời gian dài rồi chết trong thành vì tuổi già, ốm yếu, ít ăn, ít ngủ. Nhưng hậu nho bài bác Phật giáo, thấy ông rất tin đạo Phật mới đặt ra việc chết đói, để mỉa mai sao Phật không cứu ông khỏi chết đói.

Nguồn: Trần Văn Nhĩ, Tuyển tập thơ chữ Hán Nguyễn Khuyến, NXB Văn Nghệ, 2005

Bản dịch của Trần Văn Nhĩ

Bên giậu cúc đông, rượu chửa tàn,
Giở xem Lương sử, dạ bàn hoàn.
Ngựa xe vạn cỗ, canh cơm hẩm,
Cực khổ bốn canh, giá rét căm.
Cuộc thế thịnh suy luôn biến đổi,
Nhà nho đáng thẹn mỉa tràn lan.
Nếu câu chết đói cho là thật,
Nghiêu, Thuấn, Thang, Văn xương cũng tàn.

Bình chọn

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây