Vũ Phu Đôi – 珷玞堆

0
7

珷玞堆

橫路廢久不成路,
珷玞巍巍儼如故。
鄰邑婦女常往來,
淺處及腓深及股。
珷玞坐見睆然笑:
尒有何物如此素?
傖惶厭蔽前至辭:
偶尒乖疎幸物怒!
翁言我何怒尒為?
怒尒何亢我陽具!
尒歸宜告尒鄉鄰,
早來我錫尒胤祚。
古今此鄉生出人,
口話一言僉類珷。

Vũ phu đôi
Hoành lộ phế cửu bất thành lộ,
Vũ phu nguy nguy nghiễm như cố.
Lân ấp phụ nữ thường vãng lai,
Thiển xứ cập phì, thâm cập cổ.
Vũ phu toạ kiến hoản nhiên tiếu:
“Nhĩ hữu hà vật như thử tố?”
Thương hoàng yểm tế tiền chí từ:
“Ngẫu nhĩ quai sơ, hạnh vật nộ!”
Ông ngôn: “Ngã hà nộ nhĩ vi?
Nộ nhĩ hà cang ngã dương cụ!
Nhĩ quy nghi cáo nhĩ hương lân,
Tảo lai ngã tích nhĩ dận tộ.”
Cổ kim thử hương sinh xuất nhân,
Khẩu thoại nhất ngôn thiêm loại vũ.

Dịch nghĩa

Đường ngang bỏ lâu, không còn ra đường,
Đống cuội vẫn cao vòi vọi như cũ.
Đàn bà làng bên thường qua lại,
Chỗ nông đến bắp chân, chỗ sâu đến vế.
Ông Cuội ngồi trông nhoẻn miệng cười:
“Mày có cái gì mà trắng như thế?”
Đàn bà hoảng sợ vội che đậy, đến trước mặt hết lời van xin,
“Vô tình, trót sơ suất, xin ông chớ giận”.
Ông nói: “Tao giận mày mà làm gì,
Chỉ giận mày làm tao cứng cả dương vật.
Mày nên về bảo làng bên mày,
Sớm đến ông cho con làm giống.”
Cho nên ngày nay nàng ấy sinh ra loại người,
Nói điều nào đều y như Cuội.

Bài này Thơ văn Nguyễn Khuyến (NXB Văn học, 1971) có đề là Vũng lội đường ngang. Bản chữ Hán phát hiện sau thấy ghi đầu đề là Vũ phu đôi. “Vũ phu” có hai nghĩa là dũng sĩ, và cũng là một thứ đá như ngọc, màu hồng hồng, vân trắng (thuộc loài đá cuội). Tác giả đã dựa vào câu thành ngữ “Nói dối như Cuội” và lấy nghĩa thứ hai của chữ “vũ phu” mà đặt là “Vũ phu đôi” có thể dịch là “đống cuội”. Ngày trước trên đường đi thường có người chết đường, hoặc do một lý do mê tín nào đó, người qua đường thường bỏ đất vào thành đống rồi thắp hương lên trên hoặc còn lập miếu thơ nhỏ, gọi chung là mả Cuội, đống ông Cuội, miếu ông Cuội… Do đó, ở đây lấy đầu đề như trên cho sát hơn.

Trong bản chữ Hán còn có chú thích: “Phó tổng làng bên (tức làng Phú Đa) nói nhiều điều không thực nên có thơ này”. Như thế, rõ ràng tác giả chỉ nhân có đống ông Cuội gần chỗ lội mà hư cấu nên chuyện để mà chế giễu.

Nguồn: Trần Văn Nhĩ, Tuyển tập thơ chữ Hán Nguyễn Khuyến, NXB Văn Nghệ, 2005

Bình chọn

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây