10 Bài Thơ Nổi Bật Của Nhà Chí Sĩ Yêu Nước Phan Bội Châu

0
118

Phan Bội Châu, sinh ngày 26-12-1867, là một nhà thơ, nhà cách mạng Việt Nam trong phong trào chống Pháp. Ông đã thành lập phong trào Duy Tân Hội và khởi xướng phong trào Đông Du.

Ông là một nhà yêu nước nhiệt thành, đã dành cả cuộc đời cống hiến cho sự nghiệp giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp và liên tục bị bắt giam.

Từ năm 1926 trở đi, Phan Bội Châu là người tù bị giam lỏng ở Bến Ngự. Đến đây, cuộc đời hoạt động cách mạng nguyện hiến dâng tất cả cho Tổ quốc của Phan Bội Châu phải bỏ dở. Phong trào cách mạng Việt Nam theo đà phát triển mới của lịch sử tiến như vũ bão. Mặc dù “Ông già Bến Ngự” phải sống cuộc đời “cá chậu chim lồng” nhưng cụ vẫn làm thơ văn để nói nỗi khổ nhục của người dân mất nước, trách nhiệm của người dân đối với nước… Cả cuộc đời ông đã sáng tác trên 800 bài thơ nôm các loại, mấy chục bài phú, văn tế, tạp văn …

Hôm nay, Blog Chùm Thơ xin gửi tới các bạn 10 bài thơ nổi bật trong sự nghiệp sáng tác của Phan Bội Châu để phần nào thấy nhân cách và tư tưởng của ông.

1, Thuyền Đêm Tức Cảnh

Một lá thuyền lơ lửng,
Năm canh nguyệt ủ ê.
Mưa lùa xe ngựa chạy,
Gió thổi nón tơi về.
Gà gáy mơ hồ sáng,
Quyên kêu sắp sửa hè.
Ông này quá vô sự:
Ba chén ngáy khè khè!

(1930)

2, Xuất Dương Lưu Biệt

Sinh vi nam tử yếu hy kỳ,
Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di.
Ư bách niên trung tu hữu ngã,
Khởi thiên tải hậu cánh vô thuỳ.
Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế,
Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si.
Nguyện trục trường phong Đông hải khứ,
Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi.

Dịch nghĩa:

Đã sinh làm kẻ nam nhi thì cũng phải mong có điều lạ,
Há lại để trời đất tự chuyển vần lấy sao!
Giữa khoảng trăm năm này, phải có ta chứ,
Chẳng nhẽ ngàn năm sau lại không có ai (để lại tên tuổi) ư?
Non sông đã chết, sống chỉ nhục,
Thánh hiền đã vắng thì có đọc sách cũng ngu thôi!
Mong đuổi theo ngọn gió dài đi qua biển Đông,
Ngàn đợt sóng bạc cùng bay lên.

Bản dịch của Tôn Quang Phiệt:

Làm trai phải lạ ở trên đời
Há để càn khôn tự chuyển dời
Trong khoảng trăm năm cần có tớ
Sau này muôn thuở há không ai ?
Non sông đã mất, sống thêm nhục
Hiền thánh còn đâu, học cũng hoài
Muốn vượt bể Đông theo cánh gió
Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.

Bản dịch của Đào Trinh Nhất:

Khác thường bay nhảy mới là trai,
Chẳng chịu vần xoay mặc ý trời!
Trong cuộc trăm năm đành có tớ,
Rồi sau muôn thuở há không ai?
Non sông đã mất, mình khôn sống,
Hiền thánh đâu còn, học cũng hoài.
Ðông hải xông pha nương cánh gió.
Nghìn làn sóng bạc múa ngoài khơi.

3, Than Nhà Quê

Nghe nói “nhà quê” mấy kẻ ưa,
Chẳng quê thì có lịch bao giờ?
Lầu cao, máu mủ anh vôi cát,
Áo tốt, chân tay chị vải tơ.
Tiền cậy mớ dầu ông đóng góp,
Cơm nhờ vải vóc cụ cày bừa.
Chẳng quên thì cứ trau giồi lịch,
Nói rõ người hèn đã biết chưa?

(1931)

4, Bài Ca Chúc Tết Thanh Niên

Dậy! Dậy! Dậy!
Bên án một tiếng gà vừa gáy
Chim trên cây liền ngỏ ý chào mừng
Xuân ơi xuân, xuân có biết hay chăng ?
Buồn cùng sông, thẹn cùng núi, tủi cùng trăng
Hai mươi năm lẻ đã từng chua với xót
Trời đất may còn thân sống sót
Tháng ngày khuây khoả lũ đầu xanh
Thưa các cô các cậu lại các anh
Trời đã mới người càng nên đổi mới
Mở mắt thấy rõ ràng tân vận hội
Ghé vai vào gánh vác cựu giang san
Đi cho êm, đứng cho vững, trụ cho gan
Dây đoàn thể quyết ghe phen thành nghiệp lại
Ai hữu trí từ nay xin gắng gỏi
Cởi lốt xưa mà tu dưỡng lấy tinh thần
Chẳng thèm chơi, chẳng thèm mặc, chẳng thèm ăn
Đúc gan sắt để dời non lấp bể
Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ
Mới thế này là mới hỡi chư quân
Chữ rằng “nhật nhật tân, hựu nhật tân”

(1926)

5, Cảm Tác Vào Nhà Ngục Quảng Đông

Vẫn là hào kiệt, vẫn phong lưu
Chạy mỏi chân thì hẵng ở tù
Đã khách không nhà trong bốn bể
Lại người có tội giữa năm châu
Dang tay ôm chặt bồ kinh tế
Mở miệng cười tan cuộc oán thù
Thân ấy hãy còn, còn sự nghiệp
Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu

6, Sống

Sống tủi làm chi đứng chật trời
Sống nhìn thế giới hổ chăng ai?
Sống làm nô lệ cho người khiến
Sống chịu ngu si để chúng cười
Sống tưởng công danh, không tưởng nước
Sống lo phú quý, chẳng lo đời
Sống mà như thế đừng nên sống
Sống tủi làm chi đứng chật trời.

7, Chơi Xuân

Quân bất kiến Nam, Xuân tự cổ đa danh sĩ
Đã chơi xuân đừng quản nghĩ chi chi
Khi ngâm nga xáo lộn cổ kim đi
Tùa tám cõi ném về trong một túi

Thơ rằng:
Nước non Hồng Lạc còn đây mãi
Mặt mũi anh hùng há chịu ri
Giang sơn còn tô vẽ mặt nam nhi
Sinh thời thế phải xoay nên thời thế
Phùng xuân hội, may ra ừ cũng dễ
Nắm địa cầu vừa một tí con con
Đạp toang hai cánh càn khôn
Đem xuân vẽ lại trong non nước nhà
Hai vai gánh vác sơn hà
Đã chơi chơi nốt, ố chà chà xuân.

(1905)

8, An Mai Quân

Phiêu bồng ngã bối các tha hương
Tân khổ thiên quân phận ngoại thường
Tính mạng kỷ hồi tần tử địa
Tu mi tam độ nhập linh đường
Kinh nhân sự nghiệp thiên đào chú
Bất thế phong vân đế chủ trương
Giả sử tiền đồ tận di thản
Anh hùng hào kiệt giã dung thường.

Bản dịch của Đào Trinh Nhất:

Bơ vơ đất khách bác cùng tôi:
Riêng bác cay chua nếm đủ mùi.
Tính mạng bao phen gần chết hụt.
Mày râu ba lượt bị giam rồi!
Trời toan đại dụng nên rèn chí,
Chúa giúp thành công tất có hồi
Nếu phải đường đời bằng phẳng hết,
Anh hùng hào kiệt có hơn ai.

9, Thất Bại Là Mẹ Thành Công

Tay ba lần gãy,
Mới biết thuốc tiên.
Đánh trăm trận quen,
Mới hay tướng giỏi.
Nếu không thất bại,
Sao có thành công.
Xưa nay anh hùng,
Từng thua mới được.
Cờ vì lỡ bước,
Bàn trước chịu thua.
Tính kỹ toan sâu,
Bàn sau chắc được.
Chông gai ngan ngác,
Sóng gió tơi bời.
Vượt núi qua vời,
Vẫn nhiều gian trở.
Vấp cây chạm đá,
Là thợ đem đường.
Lỗi hướng lầm phương,
Là thầy chỉ lối.
Càng nhiều thất bại,
Càng chắc thành công.
Xin chớ ngã lòng,
Xin càng bền chí.
Ngã rồi liền dậy,
Muôn dặm không xa.
Chèo mãi phải qua,
Bờ kia hẳn tới.
Trời đâu ta hỏi,
Xem thử gan già.

10, Tự Trào

Râu mày trơ trẽn với non sông,
Thiệt phải mình chăng? Lòng hỏi lòng.
Sấm điếc gió câm trời đất trọi,
Muông qua chim lại tháng ngày chung.
Có đôi (ném) xác thịt, đôi không đặng,
Toan vớt đồng bào, vớt chẳng xong.
Biết nói cùng ai, cười với bóng,
Ông xanh xanh hỡi thấu chăng ông?

(1937)

Bình chọn

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây