Những Bài Thơ Ngày Tết Hay Nhất Của Nhà Thơ Đoàn Văn Cừ

0
113

Đoàn Văn Cừ là nhà thơ có cái hồn đặc biệt và những từ ngữ rất hay, mềm mại trong những bài thơ mùa xuân, ngày tết và thôn quê. Sau đây, Blog Chùm Thơ mời các bạn cùng xem qua chùm 12 bài thơ mùa xuân, những bài thơ ngày tết hay nhất của nhà thơ Đoàn Văn Cừ.

Thơ Đoàn Văn Cừ

1, Chợ Tết

Dải mây trắng đỏ dần trên đỉnh núi,
Sương hồng lam ôm ấp nóc nhà tranh,
Trên con đường viền trắng mép đồi xanh,
Người các ấp tưng bừng ra chợ Tết.
Họ vui vẻ kéo hàng trên cỏ biếc;
Những thằng cu áo đỏ chạy lon xon,
Vài cụ già chống gậy bước lom khom,
Cô yếm thắm che môi cười lặng lẽ.
Thằng em bé nép đầu bên yếm mẹ,
Hai người thôn gánh lợn chạy đi đầu,
Con bò vàng ngộ nghĩnh đuổi theo sau.

Sương trắng rỏ đầu cành như giọt sữa,
Tia nắng tía nháy hoài trong ruộng lúa,
Núi uốn mình trong chiếc áo the xanh,
Đồi thoa son nằm dưới ánh bình minh.
Người mua bán ra vào đầy cổng chợ.
Con trâu đứng vờ rim hai mắt ngủ,
Để lắng nghe người khách nói bô bô.
Anh hàng tranh kĩu kịt quẩy đôi bồ,
Tìm đến chỗ đông người ngồi giở bán.
Một thầy khoá gò lưng trên cánh phản,
Tay mài nghiên hí hoáy viết thơ xuân.
Cụ đồ nho dừng lại vuốt râu cằm,
Miệng nhẩm đọc vài hàng câu đối đỏ.
Bà cụ lão bán hàng bên miếu cổ,
Nước thời gian gội tóc trắng phau phau.
Chú hoa man đầu chít chiếc khăn nâu,
Ngồi xếp lại đống vàng trên mặt chiếu.
Áo cụ lý bị người chen sấn kéo,
Khăn trên đầu đang chít cũng bung ra.
Lũ trẻ con mải ngắm bức tranh gà,
Quên cả chị bên đường đang đứng gọi.
Mấy cô gái ôm nhau cười rũ rượi,
Cạnh anh chàng bán pháo dưới cây đa.
Những mẹt cam đỏ chót tựa son pha.
Thúng gạo nếp đong đầy như núi tuyết,
Con gà trống mào thâm như cục tiết,
Một người mua cầm cẳng dốc lên xem.

Chợ tưng bừng như thế đến gần đêm,
Khi chuông tối bên chùa văng vẳng đánh,
Trên con đường đi các làng hẻo lánh,
Những người quê lũ lượt trở ra về.
Ánh dương vàng trên cỏ kéo lê thê,
Lá đa rụng tơi bời quanh quán chợ.

1939

2, Năm Mới

Cây đèn bóng dựng dưới trời đêm
Chiếc vỏ chai cưa giả chụp đèn
Ngọn lửa trong mưa vờn lấp loáng
Gió lùa chùm khánh động “leng keng”

Vài lá đa xanh giắt mái nhà
Để cầu phúc lộc đến đề đa
Ngoài sân ấn quyết trừ ma quỷ
Vôi vẽ hình tên nỏ trắng loà

Bên vách hòm gian đặt cúng thờ
Bát hương nõn chuối cắm lơ thơ
Vỉ buồm gạo nếp “tay giềng” họ
Thịt lợn đầy mâm thái miếng to

Cây nêu – dấu Phật đuổi hung thần
Cổ mũ trên bàn cúng Táo quân
Mùng bốn Tết xong làm lễ tiễn
Giấy tiền ông vải đốt đầy sân

1941

3, Tết

Sáng hôm mồng một tết,
Đèn nến thắp xong rồi,
Bà tôi ngồi trong ổ,
Mặc áo đỏ cho tôi.

Ông tôi vừa thức dậy,
Nằm ngó cổ trông ra.
Trên ngọn cây đèn bóng,
Trời lất phất mưa sa.

Giờ lâu tràng pháo chuột,
Đì đẹt nổ trên hè,
Con gà mào đỏ chót,
Sợ hãi chạy le te.

Cây nêu trồng ngoài ngõ,
Soi bóng dưới lòng ao.
Chùm khánh sành gặp gió
Kêu lính kính trên cao,

Từ khi ông tôi mất,
Bà tôi đã qua đời,
Tôi mỗi ngày mỗi lớn,
Nên chẳng thấy gì vui.

Tết đến tôi càng khổ,
Tôi nhớ bức tranh gà,
Chiếc phong bao giấy đỏ,
Bánh pháo tép ba xu.

1939

4, Tết Quê Bà

Bà tôi ở một túp nhà tre.
Có một hàng cau chạy trước hè,
Một mảnh vườn bên rào giậu nứa.
Xuân về hoa cải nở vàng hoe.

Gạo nếp ngày xuân gói bánh chưng,
Cả đêm cuối chạp nướng than hồng.
Quần đào, áo đỏ, tranh gà lợn,
Cơm tám, dưa hành, thịt mỡ đông.

5, Chơi Xuân

Ngày xuân trẻ bức tranh gà
Cụ già quần nhiễu đỏ loà sang nhau
Đàn ông khăn nhiễu đội đầu
Đôi giày da láng, khăn trầu đỏ hoe
Đàn bà yếm đậu vàng hoe
Hàm răng đen nhức, váy lê thẹn thùng
Đám “quay đất” họp đang đông
Tiếng cười nắc nẻ vang trong góc lều
Hiu hiu trời tắt nắng chiều
Chõ xôi trong bếp phì phèo lên hơi
Bàn thờ hương cháy toả mùi
Từng tràng pháo chuột nổ dài trong khuya

6, Chợ Làng Vào Xuân

Đầu năm chợ họp giữa đồng khoai
Nô nức về chơi đủ hạng người
Trai tỉnh ô đen, quần lụa đũi
Gái quê khuyên bạc, váy tơ sồi
Bên hàng tranh, pháo người chen chúc
Cạnh chiếu “cò, cua…” khách đứng ngồi
Chợ vãn đường về cô yếm đỏ
Tay bồng quả bưởi chín vàng tươi

7, Đám Hội

Mùa xuân ấy, ông tôi lên tận tỉnh
Đón tôi về xem hội ở làng bên.
Suốt ngày đêm chuông trống đánh vang rền
Người lớn bé, mê man về hát bội.
Những thằng cu tha hồ khoe áo mới
Và tha hồ nô nức kéo đi xem.
Các cụ già uống rượu mãi gần đêm,
Tổ tôm điếm chơi đều không biết chán.
Những con bé áo xanh đòi chị ẵm
Để đi theo đám rước lượt quanh làng.
Các bà đồng khăn đỏ chạy loăng quăng.
Đón các khách thập phương về dự hội,
Một chiếc kiệu đương đi dừng bước lại,
Rồi thình lình quay tít mãi như bay.
Một bà già kính cẩn chắp hai tay,
Đứng vái mãi theo đám người bí mật.
Trên bãi cỏ dưới trời xuân bát ngát,
Một chị đương đu ngửa tít trên không.
Cụ lý già đứng lại ngửng đầu trông,
Mắt hấp háy nhìn qua đôi mục kỉnh.
Mấy cô gái nép gần hai chú lính.
Má đỏ nhừ bẽn lẽn đứng ôm nhau.
Chiếc ô đen lẳng lặng tiến ra cầu
Tìm đến chiếc san màu bay trước gió,
Bác nhà quê kiễng chân nhìn ngấp ngó,
Rồi leo lên cho ai nấy cùng trông
Đoàn trải dài vùn vụt giữa dòng sông
Người lố nhố chèo trên làn nước lạnh.
Bọn đô vật trước đình thi sức mạnh
Mình cởi trần gân cốt nổi như lươn;
Tiếng reo hò khuyến khích dậy từng cơn
Lẫn tiếng trông bên đường khua rộn rã.
Bên mấy chiếc khăn vuông hình mỏ quạ,
Đứng chen vào chiếc mũ trắng nghênh ngang.
Bọn trai quê bá cổ cạnh cô hàng
Vờ mua bán để tìm câu chuyện gẫu.
Một chú xẩm dạo đàn bên chiếc chậu,
Mắt lờ mờ nghe ngóng tiếng gieo tiền.
Thằng bé em đòi mẹ bế lên đền
Xem các cụ trong làng ra cử tế;
Tiếng chiêng trống chen từng hồi lặng lẽ,
Những bóng người trịnh trọng khẽ đi lên;
Những cánh tay áo thụng vái mơ huyền,
Đang diễn lại cả một thời quá khứ
Mà đất nước non sông cùng cây cỏ
Còn thuộc quyền sở hữu của Linh thiêng.
Khi tế xong một cụ đứng trên thềm,
Giơ bánh pháo cho người kia lại đốt.
Bọn trai gái đứng xem đều chạy rạt,
Một thằng cu sợ hãi khóc bi be.

Người đi xem nhiều bọn đã ra về
Trên đường vắng lá đề rơi lác đác,
Ốc xa rúc từng hồi trong xóm mạc,
Trời đỏ hồng sau những trái đồi xanh,
Đàn chim hôm nhớn nhác gọi trên cành
Vệt tháp trắng in dài trên đồng vắng,
Tiếng chuông tối nhạt khoang trong yên lặng.
Lẫn trống chèo văng vẳng phía làng xa.
Của đám dân nô nức dưới trăng tà…

1939

8, Đám Cưới Mùa Xuân

Ngày ửng hồng sau màn sương gấm mỏng,
Nắng dát vàng trên bãi cỏ non xanh.
Dịp cầu xa lồng bóng nước long lanh,
Đàn cò trắng giăng hàng bay phấp phới.

Trên cành cây, bỗng một con chim gọi
Lũ người đi lí nhí một hàng đen
Trên con đường cát trắng cỏ lam viền
Họ thong thả tiến theo chiều gió thổi,
Dưới bầu trời trong veo không mảy bụi,
Giữa cánh đồng phơn phớt tựa màu nhung.
Một cụ già râu tóc trắng như bông,
Mặc áo đỏ, cầm hương đi trước đám.
Dăm sáu cụ áo mền bông đỏ sẫm,
Quần nâu hồng, chống gậy bước theo sau.
Hàng ô đen thong thả tiến lên sau.
Kế những chiếc mâm đồng che lụa đỏ.
Bọn trai tơ mặt mày coi hớn hở,
Quần lụa chùng, nón dứa áo sa huê.
Một vài bà thanh lịch kiểu nhà quê,
Đầu nón nghệ, tay cầm khăn mặt đỏ.
Bà lão cúi lom khom bên cháu nhỏ,
Túi đựng trầu chăm chăm giữ trong tay.
Thằng bé em mẹ ẵm, má hây hây,
Đầu cạo nhẵn, áo vàng, quần nâu sẫm.
Cô bé để cút chè người xẫm mẫm,
Đi theo bà váy lĩnh, dép quai cong.
Một chị sen đầu đội chiếc khăn hồng,
Đặt trên cái hòm da đen bóng lộng.
Người cô dâu hôm nay coi choáng lộn.
Vành khuyên vàng, áo mớ, nón quai thao.
Các cô bạn bằng tuổi cũng xinh sao,
Hai má thắm, ngây thơ nhìn trời biếc.
Dăm bảy cô phủ mình trong những chiếc
Áo đồng lầm, yếm đỏ, thắt lưng xanh.

Một lúc sau đi tới chỗ vòng quanh,
Nếp chùa trắng in hình trên trời thắm,
Thì cả bọn dần đần cùng khuất lẩn
Sau trái đồi lấp lánh ánh sương ngân.
Chỉ còn nghe văng vẳng tiếng chim xuân
Ca ánh ỏi trên cành xanh tắm nắng.

9, Đường Về Quê Mẹ

U tôi ngày ấy mỗi mùa xuân,
Dặm liễu mây bay sắc trắng ngần,
Lại dẫn chúng tôi về nhận họ
Bên miền quê ngoại của hai thân.

Tôi nhớ đi qua những rặng đề,
Những dòng sông trắng lượn ven đê.
Cồn xanh, bãi tía kề liên tiếp,
Người xới cà, ngô rộn bốn bề.

Thúng cắp bên hông, nón đội đầu,
Khuyên vàng, yếm thắm, áo the nâu
Trông u chẳng khác thời con gái
Mắt sáng, môi hồng, má đỏ au.

Chiều mát, đường xa nắng nhạt vàng,
Đoàn người về ấp gánh khoai lang,
Trời xanh cò trắng bay từng lớp,
Xóm chợ lều phơi xác lá bàng.

Tà áo nâu in giữa cánh đồng,
Gió chiều cuốn bụi bốc sau lưng.
Bóng u hay bóng người thôn nữ
Cúi nón mang đi cặp má hồng.

Tới đường làng gặp những người quen.
Ai cũng khen u nết thảo hiền,
Dẫu phải theo chồng thân phận gái
Đường về quê mẹ vẫn không quên.

1942

10, Ngày Xuân Chơi Đồng Quê

Ngày xưa rạng, vàng son lồng mặt nước
Trời thêu mây, núi tím nắng phun hường.
Cây xanh rờn sương nạm ngọc kim cương,
Dòng nước biếc lượn như dòng ngọc chảy.
Ðàn chim sẻ nấp mình qua kẽ sậy
Tia nắng hồng đốt cháy hạt sương trong.
Ðám mây vàng lơ lửng lướt trên không
Bóng trôi xuống dòng nước trong sâu thẳm.

Vài tia khói trên nóc nhà nâu xám
Như những đường phấn trắng tỏa liu điu
Trên đồng xanh vài ngọn tháp chuông cao
Bóng nổi rõ trên nền trời hồng nhạt

Ngôi miếu nhỏ bên đường hương khói lạt,
Như bức tường văn hóa bị tàn vong.
Con trâu đen chúi mũi đứng bên đồng,
Cứ liếm mãi nắng vàng trên cỏ biếc.

Bên đường cái, dưới giàn đa xanh mướt,
Một bà hàng đặt chõng bán chè xôi.
Người các làng đi chợ gánh trên vai
Những thúng nặng khoai lang màu tía đỏ.

Từng quãng hiện sau bức tường đất lở
Một túp nhà trong một mẩu vườn xanh.
Ðây, cây dề táp rợp bóng rung rinh,
Nắng len lỏi tìm chim trong kẻ lá.
Kia, rải rác bên chùa dăm tấm đá
Dấu thời gian còn lại vết rêu mờ.
Dưới chân đồi, trong những ruộng trồng dưa,
Qua khe lá hoa vàng chen lấm tấm.
Những cồn mía lá non, mình tía sẫm,
Vạch lên trời một nét uốn thanh thanh.
Vài ba cô yếm đậu, thắt lưng xanh,
Giơ gáo dội trong những vườn cải biếc.
Mấy cô khác vai mang đôi nồi nước,
Từ cổng làng lững thững gánh đi ra.
Bên vệ thờ tịch mịch dưới cây đa,
Nằm lăn lóc những bình vôi sứt mẻ.
Trên luống cỏ, dưới cây bàng lặng lẽ,
Con cò nằm theo đuổi giấc mơ trưa.
Từ đàng xa văng vẳng tiếng chim cu
Làm sóng sánh cả bầu không khí biếc
Vài chiếc quán bên đường che cánh liếp,
Khói đầu nhà theo gió uốn mình bay . . .

Ngày chiều về, vàng tía rộn chân mây,
Trăng sao bạc thêu màn trời gấm đỏ,
Hơi lam tím phủ mờ trên lá cỏ,
Một đàn bò thấp thoáng bước trong sương.
Ngày tắt dần theo nhịp tiếng chuông vang . . .

11, Chơi Xuân

Ngày xuân trẻ bức tranh gà,
Cụ già quần nhiễu đỏ lòa sang nhau.
Đàn ông khăn nhiễu đội đầu,
Đôi giày da láng, khăn trầu đỏ loe.
Đàn bà yếm đậu vàng hoe,
Hàm răng đen nhức, váy lê thẹn thùng.
Đám “quay đất” họp đang đông,
Tiếng cười nắc nẻ vang trong góc lều
Hiu hiu trời tắt nắng chiều,
Chõ xôi trong bếp phì phèo lên hơi.
Bàn thờ hương cháy tỏa mùi,
Từng tràng pháo chuột nổ dài trong khuya.

12, Quê Mẹ Vào Xuân

Quê mẹ vào xuân bao chuyện lạ:
Tàu cuốc lòng sông nạo cát vàng
Biển biếc mọc lên làng đất mới,
Xoá đồng chiêm trũng, phá cồn hoang.

Bão lật, lũ trào, đê vẫn vững,
Hạn thiêu nước ruộng chẳng hề khan.
Lúa khoai dệt gấm trùm bom đạn,
Bốn vụ thâm canh, đất nhả vàng.

Hội cấy thêm nhiều tay cấy giỏi,
Rợp đồng khăn đỏ, thắt lưng son.
Chủ tịch, bí thư cùng xuống ruộng,
Dăng hàng cấy lúa với bà con.

Xem thêm:
Bình chọn

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây